Đối soát là đối chiếu quà đã nhận với số đã phát, chuyển đi, còn lại và cần xử lý. Ghi cùng đơn vị và thời điểm để biết chênh lệch ở đâu, rồi nối từng số với phiếu hoặc bảng làm căn cứ.

Thống nhất đơn vị trước khi cộng các báo cáo
Trước khi cộng báo cáo các điểm, thống nhất đơn vị và thời điểm chốt. Mỗi dòng nên có điểm nhận/phát, mã mẫu, tên quà và đơn vị đang dùng. Điểm báo lúc trưa không so trực tiếp với điểm báo cuối ngày nếu quà vẫn đang được phát.
Quy đổi hàng rời, bộ và thùng theo đúng thành phần
Một bộ gồm ba món không được cộng vào tổng chiếc rồi gọi là số bộ đã phát. Nếu một nơi báo theo thùng, nơi khác báo theo bộ, cần ghi đơn vị gốc, lượng quy đổi và căn cứ của phép đổi. Không áp một hệ số cho các thùng hoặc bộ có thành phần khác nhau.
Với bộ quà, giữ danh sách món đi kèm để biết bộ đã phát có đủ thành phần. Một thùng đã mở và rút bớt phải ghi số còn thực tế, không tiếp tục tính như nguyên thùng.

Tách số đã phát, chuyển, lỗi và còn lại
Ghi riêng lượng đầu kỳ, nhận thêm, đã phát, dùng thử hoặc trưng bày, chuyển đi, lỗi tách riêng và còn cuối. Một món chỉ được tính vào một nhóm trong lần chốt, tránh vừa ghi là lỗi vừa cộng vào số còn dùng được.
Ví dụ, 10 chiếc dùng tập huấn không phải 10 người nhận quà. Năm bộ chuyển sang điểm khác không phải quà phát thêm ở điểm gửi. Hàng đổi hoặc thu lại cần dòng và chứng từ riêng để không cộng thành hai người nhận.
Chọn quy tắc trước khi phát sẽ dễ đối chiếu hơn. Nếu báo cáo cũ đã gộp nhiều trạng thái, ghi phần chưa rõ và tìm chứng từ xác minh; không tự chia lại theo ước lượng rồi báo như số thật.
Mẫu ghi đối soát để dùng cùng các điểm phát
Tải mẫu đối soát quà dạng CSV để mở trong Excel hoặc Google Sheets. File có 16 cột và một dòng trống để điền, chưa có số liệu hay công thức tự tính của chương trình.
- Kỳ và mẫu: kỳ báo cáo, thời điểm chốt, điểm nhận/phát, mã mẫu và đơn vị.
- Số lượng: tồn đầu, nhận thêm, đã phát, dùng thử/trưng bày tách riêng, chuyển đi, lỗi tách riêng, còn cuối và chênh chưa rõ.
- Căn cứ: phiếu hoặc bảng đối chiếu, người chốt và ghi chú việc cần xác minh.
Trong mẫu này, “còn cuối” là lượng còn giữ chưa được ghi ở nhóm lỗi hoặc dùng thử/trưng bày tách riêng. Khi có đổi trả, thu lại hay cách phân loại khác, thêm dòng/cột và thống nhất cách ghi trước khi cộng; không dùng khung đơn giản này thay toàn bộ sổ kho.

Cộng lại số lượng của từng điểm trước khi tìm nguyên nhân
Với các nhóm tách riêng như trên, lượng đầu kỳ cộng nhận thêm cần được đối chiếu với đã phát, dùng thử/trưng bày, chuyển đi, lỗi và còn cuối. Kiểm cả cách phân loại, không chỉ phép cộng.
Ví dụ giả định: một điểm nhận 200 bộ, nhận thêm 20, phát 180, chuyển đi 10, tách lỗi 3 và còn 27. Lượng có là 200 + 20 = 220 bộ; các nhóm đã ghi cộng lại là 180 + 10 + 3 + 27 = 220 bộ. Ví dụ này không có lượng dùng thử/trưng bày tách riêng.
Số khớp chưa chứng minh mọi dòng đúng. Vẫn cần phiếu nhận, bảng phát, phiếu chuyển và số kiểm thực tế. Nếu có 5 bộ chưa giải thích, giữ là chênh chưa rõ; đừng chuyển sang “đã phát” chỉ để tổng hết lệch.
Khi tổng các nhóm không khớp lượng đã nhận
Ở một ví dụ giả định khác, quầy nhận 100 phần, nhận thêm 20, phát 105, còn 12 và tách lỗi 3. Tổng 105 + 12 + 3 = 120 phần, khớp lượng được cấp.
Nếu báo phát 108 với số còn và lỗi giữ nguyên, tổng trở thành 123 phần, nhiều hơn lượng được cấp 3 phần. Cần xem phiếu và cách ghi trước khi kết luận phát vượt: có thể nhập sai, chuyển giữa quầy chưa ghi hoặc tính lỗi hai lần. Không ép nhân viên sửa số phát để báo cáo vừa tổng.
Đối chiếu hàng dư theo tình trạng sử dụng
Hàng còn có thể là nguyên, đã mở, đã trưng bày, thiếu bao hoặc bị lỗi. Những trạng thái này có khả năng dùng lại khác nhau. Không gộp tất cả vào tồn sẵn cho chiến dịch sau.
Kiểm thông điệp in có còn phù hợp không: ngày, tên chương trình, địa điểm hoặc dữ liệu người nhận có thể giới hạn dùng lại. Với sản phẩm có pin, hạn dùng hoặc yêu cầu bảo quản, cần hồ sơ và đánh giá phù hợp. Không tự coi mọi vật phẩm trung tính đều dùng được vô thời hạn.
Ghi lượng, nơi giữ, người quản lý và quyết định tiếp theo. Nếu chuyển hoặc xử lý, cần quyền phù hợp và lưu dấu vết. Không phát quà có tên riêng cho người khác chỉ vì sản phẩm còn mới, cũng không công khai dữ liệu trên ảnh hàng dư.

Xác minh chênh lệch bằng chuỗi bàn giao
Khi lệch, kiểm lần lượt lượng nhận, số kiện, cách quy đổi, phiếu chuyển, đổi trả và thời điểm cập nhật. Nhiều sai lệch có thể do đơn vị hoặc báo cáo chậm, nhưng không nên kết luận nguyên nhân trước khi đối chiếu.
Hỏi bằng câu cụ thể: kiện mã nào, ai nhận, lượng trên phiếu bao nhiêu, đã mở chưa và có chuyển nội bộ không. Một yêu cầu “kiểm lại số” quá chung dễ nhận về một con số mới không có bằng chứng.
Nếu có lỗi vật phẩm, tách lượng ảnh hưởng quan sát được và phần chưa kiểm. Không suy tỷ lệ toàn bộ lô từ vài mẫu nếu không có phương pháp. Việc xác minh chất lượng và xác minh số lượng liên quan nhưng không thay nhau.

Kiểm màu, cỡ và tên riêng ngoài tổng số bộ
Tổng số bộ đủ vẫn có thể che việc sai cỡ, màu hoặc tên. Dùng mã nhận biết để đối chiếu từng bộ đã giao, đang giữ hoặc cần xử lý; tên người nhận không đủ để phân biệt khi có người trùng tên hoặc thông tin được sửa.
Với bút hoặc túi phát chung, có thể chỉ cần đối soát lượng theo mẫu và điểm. Với bộ theo tên, cần thêm trạng thái đúng người nhưng vẫn thu dữ liệu tối thiểu phục vụ mục đích. Không mở rộng danh sách thành hồ sơ cá nhân không cần thiết.
Quyền truy cập và thời gian giữ dữ liệu cần theo chính sách phù hợp. Báo cáo tổng cho marketing có thể không cần chi tiết liên hệ từng người. Tách bảng tổng hợp khỏi dữ liệu giao nhận giúp giảm việc chia sẻ quá rộng.

Tính chi phí theo đúng số đã đặt hoặc đã phát
Chi phí trên lượng đặt khác chi phí trên lượng phát. Nếu có hàng dư, phần đó vẫn là nguồn lực đã dùng hoặc tài sản còn giữ theo cách xử lý thực, không tự biến mất khỏi báo cáo.
Ví dụ giả định, chi phí trong phạm vi được xác định là 30 triệu đồng, đặt 500 món nhưng phát 450. Phân bổ trên lượng đặt là 60.000 đồng; trên lượng phát là khoảng 66.667 đồng. Hai con số trả lời hai câu hỏi khác nhau, không chọn một số tùy ý để so chiến dịch khác.
Khi so kỳ, phải cùng phạm vi chi và quy tắc lượng. Nếu kỳ trước gồm công phát còn kỳ này chỉ giá vật phẩm, chênh lệch không phản ánh hiệu quả trực tiếp. Ghi cấu phần và phần thiếu để người đọc hiểu giới hạn thay vì đưa một tỷ lệ đẹp nhưng không tương đương.
Không đồng nhất phát nhiều với hiệu quả quảng cáo
Một điểm phát hết có thể do đông người, điều kiện nhận khác hoặc cấp lượng thấp, không tự chứng minh quà làm khách quan tâm hơn. Muốn đánh giá kết quả cần dữ liệu và mục tiêu đã chốt trước.
Đo hiệu quả quà quảng cáo giải thích cách phân biệt hoạt động phát, tương tác và kết quả kinh doanh. Lượt mở trang, cuộc trao đổi đủ điều kiện và đơn hàng cần nguồn riêng. Không gán mọi kết quả sau chương trình cho món quà nếu có nhiều tác động khác.
Bảng đối soát nên cung cấp dữ liệu nền chính xác cho việc phân tích, không cố tự trả lời mọi câu hỏi marketing. Đó là cách giữ báo cáo đáng tin và giúp nhóm nhận ra điều gì cần đo tốt hơn ở lần tiếp theo.
Chốt hồ sơ và yêu cầu cho lần sau
Báo cáo cuối nên có số đã xác minh, phần chưa rõ, hàng còn, vấn đề chất lượng, chi phí theo phạm vi và việc cần xử lý. Mỗi việc mở cần người phụ trách và mốc, tránh gọi chương trình hoàn tất khi còn hàng hoặc dữ liệu chưa được bàn giao.
Khi chuẩn bị đợt mới, dùng số lượng, lỗi và cách phân phối đã ghi làm đầu vào cho việc đặt lại quà in logo. Vẫn cần kiểm yêu cầu mới; lượng phát của một sự kiện chưa là dự báo chắc cho sự kiện có nhóm khách hoặc điều kiện nhận khác.
Ghi những thay đổi có thể hành động: giảm biến thể không cần, đổi kích thước túi, chuẩn bị bó theo quầy, chốt danh sách sớm hoặc cải thiện nhãn. Một bài học cụ thể hữu ích hơn lời nhận xét chung “cần tối ưu”. Đối soát tốt kết thúc một chương trình bằng dữ liệu có căn cứ và mở chương trình sau bằng câu hỏi đúng.




